(1) Đại hạn của Thái dương hóa quyền ở cung Phúc đức, giỏi về đồ điện tử hoặc nhạc cụ điện tử. Văn khúc hóa khoa ở Tài bạch.
(2) Văn xương hóa kỵ ở Phúc đức: Nhiều suy nghĩ. Cung Mệnh ở Canh có Thiên đồng hóa kỵ, vận số không đẹp, nên bố thí tích thiện, không nên nhận nhiều ơn huệ của người khác.
Phu thê hóa kỵ nhập Mệnh, Mệnh lại hóa kỵ xuất: Không nên kết hôn.
- Cung Mệnh hóa khoa nhập Tài bạch: Tiền làm ra được là nhờ vào những việc có tính chất kỹ thuật chuyên môn, cần tư duy nhiều.
- Cung Tân hóa lộc nhập cung Phu thê: Rất yêu vợ nhưng Phu thê hóa kỵ nhập Mệnh, Mệnh lại hóa kỵ xuất, cung Phu thê ở Canh hóa lộc nhập Phúc đức: Vợ không quan tâm đến chồng.
Chú ý: Phu thê ở Canh có Thái âm hóa khoa (ở phương vị Càn) nên có thể đặt giường ngủ ở đây (đầu giường hướng Tốn, mặt giường hướng Càn).
▶️▶️▶️ Tham khảo thêm tại bài viết: cách cục trong tử vi
- Người vợ thứ hai (cung Hợi), cung Tỵ hóa lộc nhập Phụ mẫu, hiếu thuận với cha mẹ. Hóa khoa nhập Mệnh, vợ chồng sống chung đến già. Hóa kỵ nhập Tài bạch, sẽ tái hôn, vấn đề tài chính rất phức tạp, vì hóa kỵ nhập Tài bạch nên người vợ thứ hai sẽ là người quản lý tài chính trong gia đình.
Chú ý: Mệnh nam có Tham lang ở cung vượng nên cao khoảng hơn 1,7m .
Cung Ất hóa quyền nhập Mệnh: Thi cử đỗ đạt (hóa quyền tượng trưng cho thành công).
Văn xương hóa kỵ: Không tập trung học hành được.
Văn xương hóa kỵ nhập Điền trạch: Có rất nhiều sách nhưng sẽ không đi học. Cung Nhất bạch, Lục bạch lần lượt có hóa lộc, hóa kỵ; lấy hóa lộc, hóa kỵ đồng cung mà luận (vì Nhất bạch, Lục bạch cùng tông).
(3) Biểu hiện của việc thăng quan tiến chức:
Đại hạn hóa quyền bay đến nhập cung Mệnh hoặc Quan lộc của cung Mệnh. Cung Mệnh hoặc lưu niên của Quan lộc nhập vào cung đối diện, nếu đồng thời có hóa quyền, hóa lộc tương hỗ sẽ phát triển rất xa.
- Quan lộc hóa xuất lộc: Có thể được đề bạt, công việc ổn định.
- Quan lộc hóa xuất quyền: Thuyên chuyển, sáng nghiệp (quyền tượng trưng cho thành công).
- Quan lộc hóa xuất khoa: Tượng trưng cho quý nhân, có người giúp đỡ.
- Quan lộc hóa xuất kỵ: Không thuận lợi.
(Quan lộc của cung Mệnh đến đại hạn; đại hạn cung Quan lộc đến lưu niên).
- Đại hạn tọa ở hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa của cung Mệnh có, lưu niên chiếu
mới tốt.
Chú ý: Năm sinh Tứ hóa tượng trưng cho thực chất, bản chất.
Cung Mệnh Tứ hóa tượng trưng cho hành vi.
- Hóa lộc, hóa khoa, hóa quyền, hóa kỵ của đại hạn nên nhập Tam phương của cung Mệnh, vận số sẽ tốt đẹp.
- Lưu niên phải ở cung mà đại hạn có tam cát chiếu thì mới có hiệu quả.
- Hóa kỵ ở Tài bạch sẽ kiếm được tiền nhưng rất khó khăn.
- Hóa kỵ xung là chính xung, tọa ở thiên xung, tọa trước rồi hành đến là tập quán (vì đã có kinh nghiệm).
Quan lộc hóa lộc: Đi cửa sau, hành hạn đến sẽ thăng chức là nhờ đi cửa sau. Quan lộc hóa quyền
Quan lộc hóa khoa: Có người tán thưởng, thành tích thi cử tốt.
(4) Nghề nghiệp:
- Đại hạn cung Tài bạch hóa kỵ, xem có nhập cung số 1, 5, 6, 10 (cung Mệnh, Tài bạch, Tật ách, Điền trạch) của bản mệnh hay không?
- Tài bạch hóa kỵ thì sau xung hoặc hóa kỵ mới có thể đi làm. Đại hạn cung Tài bạch hóa kỵ nhập vào một cung nào đó thì sẽ vận hành qua cung đó. Hóa kỵ tọa hoặc xung mới có thể đi làm (vấn đề nghiên cứu: Cung Tài bạch là cung Quan lộc của Quan lộc).
(5) Mua nhà: Quan lộc của Điền trạch (đại hạn cung Tật ách) ở Đại hạn, tâm cát bay đến nhập vào Điền trạch của cung Mệnh, hóa kỵ tọa hoặc chiếu thì không mua được nhà. Hóa kỵ nhập là thuê nhà.
(6) Quan lộc của cung Mệnh hóa lộc nhập Phụ mẫu, đại hạn hành đến cung Phúc đức có thể đầu tư vốn kinh doanh, kiếm nhiều tiền. Cung Mệnh tự hóa kỵ, bất hạnh.
▶️▶️▶️ Có thể bạn cũng đang quan tâm:@tracuutuvi/menh-tu-vi-thien-phu" rel="nofollow">mệnh tử vi thiên tướng
Hành đến cung Mão, đại hạn cung Quan lộc có hóa lộc chiếu: Có thể phát lớn.
(7) Đại hạn cung Tài bạch bay đến hóa lộc nhập Phụ mẫu hoặc Tật ách: Phương hướng kiếm tiền thường là dựa vào nghiệp văn. Đồng thời nếu nhập Tài bạch hoặc Phúc đức của bản mệnh thì có thể làm kinh doanh.
- Đại hạn cung Tài bạch bay đến hóa lộc nhập Phu thê hoặc Quan lộc: Đi làm.
- Đại hạn cung Tài bạch bay đến hóa lộc nhập Tử nữ hoặc Điền trạch: Góp vốn kinh doanh với bạn bè.
- Đại hạn cung Tài bạch bay đến hóa lộc nhập Huynh đệ hoặc Nô bộc: Kinh doanh, giao thiệp.
- Đại hạn cung Tài bạch bay đến hóa lộc nhập Mệnh hoặc Thiên di: Phát triển ở phương diện văn học như giáo viên.
- Tật ách hóa kỵ nhập Mệnh: Bệnh tật kéo dài.
- Tật ách hóa kỵ nhập Điền trạch hành đến Tử nữ: Xảy ra tai nạn ngoài ý muốn.
(8) Tật ách hóa kỵ nhập Thiên di xung cung Mệnh: Sẽ bị thương.
- Tật ách hóa kỵ nhập Huynh đệ xung Nô bộc: Sẽ sinh bệnh (Huynh đệ là Quan lộc của Tật ách, Nô bộc là Quan lộc của Phụ mẫu, Tật ách và Phụ mẫu đều chủ về sức khỏe).
- Cung Mệnh có biểu hiện này, đại hạn đến Nô bộc: Sinh bệnh.
- Đại hạn có biểu hiện này, lưu niên đến Nô bộc: Sẽ sinh bệnh.
- Điền trạch hóa kỵ Phụ mẫu xung Tật ách: Phá tướng, thương tật, sẹo (cùng với Dương nhẫn tọa Mệnh cũng có biểu hiện tượng tự).
- Phương vị hóa khoa của đại hạn chính là phương vị của bác sĩ, hóa khoa tọa ở cung này gọi là khoa xuất, nên xem hóa lộc.
- Hóa khoa nhập ở Sửu (kho vàng) không phải là quý nhân (hóa khoa thuộc Mộc, Sửu thuộc Kim), có biểu hiện như thế thì xem hóa lộc.
- Cung Dậu (Kim sinh Thủy) hóa kỵ nhập biến song kỵ, hóa lộc nhập Hợi cũng là song kỵ.
- Hóa kỵ đến Tuất, rất nhạy cảm, không tốt. Cung Mão thuộc Mộc (sinh Hỏa), hóa khóa nhập cung Mão nên mệnh rất vất vả.
(9) Cung Mệnh hóa kỵ nhập Phu thê, Phu thê hóa kỵ nhập Mệnh có thể sẽ kết
hôn (dụng xung thể, không được).
- Phúc đức hóa kỵ nhập Phụ mẫu xung Tật ách, cung Mệnh hóa kỵ nhập Phu thê, nếu hội đủ 2 điều kiện này thì tính mạng e sẽ gặp nguy khó.
Đến Quan lộc thì năm này muôn sự bất lợi, tính mạng gặp nguy khó.
- Đại hạn đến Ty sẽ khó qua khỏi, lưu niên đến Dậu, hành đến đại hạn. Lưu niên của Tài bạch (Tam phương) tính mạng gặp nguy khó.
Chú ý: Hóa quyền xung Tật ách chủ sinh bệnh (năm sinh, đại hạn, Thiên can cung Mệnh).
Hóa lộc là nguyên nhân, hóa kỵ là kết quả. Hóa kỵ ở xử nữ cung điền trạch: Tiêu hao lớn.
- Hóa kỵ nhập Phúc đức xung Tài bạch: Tiết kiệm chi tiêu.
- Huynh đệ hóa kỵ nhập Tật ách, xung Phụ mẫu: Tiêu tiền vì sức khỏe của cha mẹ hoặc vì nơi ở của cha mẹ. Hóa kỵ nhập Phụ mẫu cũng luận như trên.
. Hóa kỵ nhập Nô bộc: Tiêu tiền vì sức khỏe của anh em, bạn bè.
- Huynh đệ hóa kỵ nhập Điền trạch đến Tử nữ: Tính mạng gặp nguy khốn.
(10) Qua đời ở nơi nào? Đại hạn của cung Tật ách xung bản mệnh chủ yểu mệnh; Đại hạn của Điền trạch xung Mệnh cũng yểu mệnh.
Phương pháp gặp cát tránh hung: Cần phải chuyển chỗ ở, dời đến phương vị của cung Phúc đức của bản mệnh, cách địa phương cự li ba hương trấn trở lên.
(11) Huynh đệ hóa kỵ, lại chuyển kỵ là nơi qua doi.
- Chuyển cung Tử nữ hoặc cung Điền trạch: Qua đời ở trong nhà.
- Chuyển kỵ nhập ranh giới Phúc đức, Tài bạch: Qua đời ở trên giường.
- Chuyển kỵ nhập Phu thê, Quan lộc: Công tác tại địa phương.
- Chuyển kỵ nhập Tật ách, Phụ mẫu: Bệnh vô phương cứu chữa, về nhà chờ giờ.
- Chuyển kỵ nhập Huynh đệ, Nô bộc: Tử hạn trong sự quan tâm của bạn bè. - Chuyển kỵ nhập cung Mệnh, Thiên di: Gặp họa tử vong bất ngờ.
(12) Huynh đệ hóa kỵ nhập Tử nữ xung Điền trạch: Từ nhỏ có thể đã chuyển chỗ ở. Hóa kỵ nhập Điền trạch xung Tử nữ: Trong nhà gặp biến cố như mẹ bỏ nhà đi.
(13) Huynh đệ hóa kỵ nhập Phu thê xung Quan lộc: Từ nhỏ gia cảnh không tốt. Huynh đệ hóa kỵ nhập cung Tật ách xung cung Phụ mẫu: Làm con nuôi người khác, không có duyên với cha mẹ.
(14) Đại hạn đến Phúc đức, cha mẹ có kỵ, nếu như ông nội còn, cha sẽ gặp nguy hiểm; ông nội mất thì không có gì phải lo ngại.
(15) Cung Quan lộc hóa kỵ nhập cung Phụ mẫu: Tương đối bị động, phải đốc thúc mới chăm chỉ học hành.
(16) Cung Điền trạch có phương vị Tử chính: Tìm phương vị Tử chính của cung Điền trạch ở đâu?
Tìm sao kỵ của đại hạn có nhập cung Điền trạch hay không, nếu như có, cung Điền trạch chính là tọa phương, có hóa kỵ tọa kỵ; không kỵ thì hướng về phương lộc, quyền, khoa.
(17) Sao Thất sát: Có loài côn trùng xuất hiện.
- Sao Phá quân: Ở gần nhà xuất hiện động vật 4 chân.
Sao Thiên cơ, Thái âm: Tượng trưng ở gần nhà có sông suối, cầu nhỏ.
(18) Lộc gặp kỵ là song kỵ, Lộc không thể nắm bắt kỵ, kỵ có thể nắm bắt kỵ.